Nền tảng

Âm và dương là hai nét căn bản của quẻ

Mỗi quẻ gồm sáu hào âm hoặc dương. Trật tự của các hào, cùng việc hào nào ổn định hay chuyển động, tạo nên hình thức của luận giải.

Hai loại hào

Dương là nét liền, âm là nét đứt. Không bên nào tốt hơn bên nào; mỗi bên gợi một kiểu năng lực khác nhau trong tình huống.

  • Dương có thể gợi hướng đi, hoạt động, sáng rõ và sức đẩy.
  • Âm có thể gợi tiếp nhận, đáp ứng, nâng đỡ và giữ hình thức.
  • Ý nghĩa cụ thể luôn phải đọc trong toàn quẻ và trong câu hỏi.

Ổn định và chuyển động

Âm trẻ và dương trẻ là hào ổn định. Âm già và dương già là hào biến, nối quẻ chính với quẻ biến.

  • Số 7 là dương trẻ; số 8 là âm trẻ.
  • Số 6 là âm già; số 9 là dương già.
  • Hào biến cho thấy nơi tình huống đang chuyển, chứ không xóa bỏ toàn bộ quẻ chính.

Âm, dương và bốn trạng thái hào

6 · Âm già

Một hào âm đang chuyển. Tính tiếp nhận đến điểm đổi chiều và chuyển sang dương.

7 · Dương trẻ

Một hào dương ổn định. Sức đẩy rõ và đang hoạt động nhưng không đổi trong luận giải này.

8 · Âm trẻ

Một hào âm ổn định. Tình huống tiếp nhận, chứa đựng và giữ hình thức mà chưa chuyển hướng.

9 · Dương già

Một hào dương đang chuyển. Hoạt lực đã đầy và bắt đầu quay về phía âm.

Thứ tự đọc gợi ý

  1. Trước hết nhìn lại câu hỏi. Quay về tình huống cụ thể đã mở ra lần gieo quẻ.
  2. Sau đó đọc quẻ chính. Nhìn hình thức toàn quẻ trước khi tách từng chi tiết.
  3. Nếu có hào biến, đọc các hào ấy. 6 hoặc 9 là những vị trí đang chuyển động.
  4. Cuối cùng đọc quẻ biến. Giữ nó như hướng và bầu khí, không như một chắc chắn đóng kín.

Câu hỏi thường gặp

Âm là xấu và dương là tốt phải không?

Không. Âm và dương là hai phẩm tính bổ sung nhau; ý nghĩa phụ thuộc vào câu hỏi và toàn quẻ.

Hào dương trông như thế nào?

Hào dương là một nét liền.

Hào âm trông như thế nào?

Hào âm là một nét đứt ở giữa.

Vì sao có hào già và hào trẻ?

Hào già thì biến; hào trẻ thì giữ nguyên trong lần luận giải.